Ban Chấp Hành Nhiệm kỳ VI (2015-2020)

Huỳnh Văn Mười (Chủ Tịch)
Điện thoại: 0913.88.99.18 – 08.384.11.305
Email: hsuyenhuy@yahoo.com

Siu Quý (P. Chủ Tịch Thường Trực)
Điện thoại: 0908.11.80.99 – 08.3899.31.03
Email: siuquy@gmail.com

Lê Xuân Chiểu (Phó Chủ Tịch)
Điện thoại: 0908.01.50.97  – 08.381.19.187
Email: xuanchieu@yahoo.com.vn

Bùi Hải Sơn (Phó Chủ Tịch)
Điện thoại: 0903.349.333
Email: haison.sculptor@gmail.com

Nguyễn Trung Tín (Ủy viên)
Điện thoại: 0913.90.89.17  –  08.383.62.382
Email: tincac@gmail.com

Mai Anh Dũng (Ủy viên)
Điện thoại: 0918.53.37.95
Email: thaitulunggu@gmail.com

Lim Khim Katy (Ủy viên)
Điện thoại: 0903.32.03.40  –  08. 394.041.93
Email: limkhimkam@gmail.gmail.com

Hoàng Tường Minh (Ủy viên)
Điện thoại: 0903.81.75.58
Email: htminhdkv@yahoo.com

Trần Thanh Nam  (Ủy viên)
Điện thoại: 0913.90.40.10  –  08.398.92.545
Email: thanhnamdk@yahoo.com

Trương Hán Minh (Ủy viên)
Điện thoại: 0903.81.64.68  – 08.396.33.832
Email: truonghanminh@yahoo.com

Trần Văn Quân  (Ủy viên)
Điện thoại: 0908.07.59.88  – 08.371.61.057

Trần Thanh Cảnh  (Ủy viên)
Điện thoại: 0985561.176

Đặng Thị Dương  (Ủy viên)
Điện thoại: 0903.634.217  – 08.3984.1982

Lê Lang Biên  (Ủy viên)
Điện thoại: 0903.602.263

Nguyễn Thị Tố Uyên  (Ủy viên)
Điện thoại: 0982507.645

BAN THƯỜNG VỤ
Huỳnh Văn Mười (Chủ Tịch)
Nguyễn Văn Quý  (Phó Chủ Tịch Thường Trực)
Lê Xuân Chiểu  (Phó Chủ Tịch)
Bùi Hải Sơn (Uỷ Viên Thường vụ)
Đặng Thị Dương (Uỷ Viên Thường vụ)
HỘI ĐỒNG NGHỆ THUẬT
Nguyễn Trung Tín (Chủ Tịch)
Trần Thanh Nam  (Phó Chủ Tịch Thường Trực)
Nguyễn Xuân Đông (Thư ký)

BAN KIỂM TRA
Nguyễn Đức Thọ (Trưởng Ban)
Nguyễn Phú Hậu (Phó Ban)
Tạ Kim Dung (Ủy viên)
Huỳnh Tuần Bá (Ủy viên)
Nguyễn Lệ Thủy (Ủy viên)

VP. HỘI MỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị MinhLoan (Chánh Văn Phòng)

NGÀNH HỘI HỌA
Mai Anh Dũng (Trưởng ngành)
Lê Kinh Tài (Phó ngành)
Lý Khắc Nhu (Phó ngành)
Siu Quý  (Ủy viên)
Trần Văn Hải  (Ủy viên)
Đào Xuân Thảo  (Ủy viên)
Lim Khim Katy  (Ủy viên)
Lâm Thị Huyền Lam (Ủy viên)

NGÀNH ĐỒ HỌA
Trần Văn Quân (Trưởng ngành)
Hà Xuân Nồng (Phó ngành)
Trịnh Hồng Lanh (Phó ngành)
Nguyễn Trí Minh Tuyết (Ủy viên)
Phạm Tam (Ủy viên)

NGÀNH ĐIÊU KHẮC
Bùi Hải Sơn  (Trưởng ngành)
Nguyễn Hoài Huyền Vũ (Phó ngành)
Lê Lang Biên  (Phó ngành)
Vĩnh Đô (Phó ngành)
Phạm Minh Chiến  (Phó ngành)
Nguyễn Hồng Dương (Phó ngành)

NGÀNH TRANG TRÍ MỸ THUẬT
Nguyễn Đắc (Trưởng ngành)
Nguyễn Sánh  (Phó ngành)
Võ Hoàng Hiệp (Phó ngành)
Nguyễn Đức Phổ (Phó ngành)
Bạch Văn Nhân (Phó ngành)
Trương Văn Ý (Phó ngành)

NGÀNH LÝ LUẬN
Nguyễn Trọng Chức (Trưởng ngành)
Nguyễn Thị Hợp (Phó ngành)
Phạm Quốc Hùng (Phó ngành)

NGÀNH GALLERY
Trần Thị Huỳnh Nga  (Trưởng ngành)
Nguyễn Văn Thành (Phó ngành)
Nguyễn Quang Cường  (Phó ngành)

CÂU LẠC BỘ DIGITAL ART
Phạm Đỗ Đồng (Chủ nhiệm)
Nguyễn Trí Minh Tuyết (P. Chủ nhiệm)
Hồ Hồng Lĩnh(P. Chủ nhiệm)

CÂU LẠC BỘ MEKONG ART
Lê Triều Điển (Chủ nhiệm)
Nguyễn ThànhNhân (P. Chủ nhiệm)

CÂU LẠC BỘ HỌA SĨ TRẺ
Nguyễn Sơn (Chủ nhiệm)
Siu Quý (P.Chủ nhiệm)
Lê Kinh Tài (P. Chủ nhiệm)
Mai Anh Dũng (Ủy viên)
Lim Khim Katy (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ GỐM MỸ THUẬT SÀI GÒN
Đoàn XuânHùng (Chủ nhiệm)
Lâm Thanh (P.Chủ nhiệm)
Phạm Thị ThuNga (P. Chủ nhiệm)

CÂU LẠC BỘ MỸ THUẬT NGƯỜI CAO TUỔI
Nguyễn XuânĐông (Chủ nhiệm)
Lê Minh (P.Chủ nhiệm)
Nguyễn Lệ Thủy (Ủy viên)
Lê Quang Luân (Ủy viên)
Huỳnh Tuần Bá (Ủy viên)
Lương TrườngThọ (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ MỸ THUẬT CỰU CHIẾN BINH& KHÁNG CHIẾN
Dương Văn Sen (Chủ nhiệm)
Đào Xuân Thảo (P. Chủ nhiệm)
Phan Hữu Thiện (P. Chủ nhiệm)
Nguyễn Thị HồngXuân (P. Chủ nhiệm)
Nguyễn HuyLong (Ủy viên)
Huỳnh Thị KimTiến (Ủy viên)
Lâm Quang Nới (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ MỸ THUẬT NỮ
Đặng ThịDương (Chủ nhiệm)
Cao Thị Được (P.Chủ nhiệm)
Trần Thị HuỳnhNga (P. Chủ nhiệm)
Lâm Thị HuyềnLam (P. Chủ nhiệm)
Lim Khim Katy (Ủy viên)
Nguyễn ThịTâm (Ủy viên)
Tạ Kim Dung (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ MỸ THUẬT NGƯỜI HOA & NHỮNGNGƯỜI YÊU THÍCH TRANH THỦY MẶC
Lý Khắc Nhu (Chủ nhiệm)
Trương Lộ (P.Chủ nhiệm)
Trần văn Hải (P.Chủ nhiệm)
Huỳnh Phong (Ủyviên)
Trịnh Huy (Ủyviên)

CÂU LẠC BỘ ĐỒ HỌA
Trần Văn Quân(Chủ nhiệm)
Nguyễn ThànhCông (P. Chủ nhiệm)
Nguyễn PhạmTrung Hậu (P. Chủ nhiệm)
Hoàng Phương Liên (Ủy viên)
Đặng MinhThành (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ TRANG TRÍ MỸ THUẬT
Bạch Văn Nhân (Chủ nhiệm)
Nguyễn Đức Phổ (P. Chủ nhiệm)
Trương VănThuận (P. Chủ nhiệm)
Trần Ngọc Tình (Ủy viên)
Nguyễn Đắc (Ủyviên)
Võ Hoàng Hiệp (Ủy viên)

CÂU LẠC BỘ SƠN MÀI
Hoạ sĩ: LÊ XUÂN CHIỂU (Chủ nhiệm)
Hoạ sĩ: NAM ANH (P.Chủ nhiệm)
Hoạ sĩ: LÂM THỊ HUYỀN LAM (P. Chủ nhiệm)
hoạ sĩ: NGUYỄN VĂN QUÝ  (P. Chủ nhiệm  –  Khu vực Bình Dương)

      UỶ BAN NHÂN DÂN                                      CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                                        Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

——————–                                                                   ————————–

 

 

ĐIỀU LỆ

Tổ chức và hoạt động ( sửa đổi ) của Hội Mỹ Thuật

Thành phố HồChí Minh

——————-.

( Banhành kèm theo Quyết định số 3406/QĐ-UBND

Ngày 06tháng 08 năm 2010 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố )

 

ChươngI

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều1 – Tên Hội

1.1. Tên tiếng Việt : Hội Mỹ Thuật Thànhphố Hồ Chí Minh

1.2. Tên giao dịch quốc tế : FINE ARTSASSOCIATION OF HO CHI MINH CITY

Điều2 . Tôn chỉ – Mục đích của Hội

1. Hội Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh làmột tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp của các nhà sáng tác , phê bình mỹthuật chuyên nghiệp , hoạt động dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành Uỷ và Uỷban nhân dân TP Hồ Chí Minh , tự nguyện tham gia hoạt động sáng tạo nghệ thuật, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc .

2.Hội Mỹ Thuật thành phố là thành viêncủa Liên Hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật thành phố Hồ Chí Minh . Hội hoạt độngtheo đúng chủ trương đường lối , chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước ,theo Điều lệ Hội và chịu sự quản lý Nhà nước của cơ quan quản lý Nhà nước thuộclĩnh vực .

Điều3

Hội Mỹ Thuật thànhphố Hồ Chí Minh được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện , tập trung , dân chủ ,phát huy vai trò chủ động sáng tạo của Hội viên .

Hội Mỹ Thuậtthành phố Hồ Chí Minh có tư cách pháp nhân , có con dấu riêng , và được mở tàikhoản tại ngân hàng theo quy định của Nhà nước .

Trụ sở đặt tạisố 218A Pasteur – Quận 3 – TP Hồ Chí Minh .

Chương II

NHIỆM VỤ CỦA HỘI

Điều4.Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ

1.Tổ chức và tậphợp hội viên thực hiện chủ trương , đường lối chính sách của Đảng và pháp luậtNhà nước về văn hoá nghệ thuật , góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá – hiệnđại hoá đất nước .

2. Phát huy tiềmnăng sáng tạo nghệ thuật của hội viên ; tổ chức các hoạt động mỹ thuật ; phốihợp với các cơ quan Nhà nước cùng với tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đểsáng tác , phổ biến , quảng bá mỹ thuật đến mọi tầng lớp nhân dân , góp phầngiáo dục , nâng cao trình độ thẩm mỹ của công chúng Thành Phố .

3.Tiếp thu cóchọn lọc tinh hoa nghệ thuật thế giới , phát huy truyền thống văn hoá , mỹ thuậtthành phố và Việt Nam , xây dựng một nền văn hoá – nghệ thuật tiên tiến , đậmđà bản sắc dân tộc , giàu tính nhân văn .

4.Phối hợp vớicơ quan quản lý Nhà nước về ngành và lĩnh vực thực hiện việc tư vấn , phản biệnđể thẩm định những vấn đề thuộc lĩnh vực mỹ thuật và đề xuất , kiến nghị kếhoạch phát triển mỹ thuật với Nhà nước và thực hiện các dự án mỹ thuật do Nhànước giao .

5. Cung cấpthông tin đầy đủ và kịp thời chủ trương , đường lối chính sách của Đảng và phápluật của Nhà nước , các thông tin quan trọng về các hoạt động mỹ thuật trongthành phố và cả nước đến từng hội viên .

6. Bảo vệ quyềnvà lợi ích chính đáng của hội viên , hoà giải các tranh chấp trong nội bộ Hội .

7. Mở rộng quan hệ hợp tác , giao lưu mỹ thuật với các tổ chức trong nước và thế giới theo đúngquy định của pháp luật .

8. Được gây quỹ Hội trên cơ sở hội phí hội viên và các nguồn thu từ các hoạt động kinh doanh .dịch vụ và nhận các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức , cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

9. Thực hiện chếđộ thu chi tài chánh và báo cáo tài chánh theo quy định của pháp luật . Thựchiện báo cáo tình hình tổ chức hoạt động của Hội với Liên hiệp các Hội Văn Học Nghệ Thuật thành phố , với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định ; chấphành sự kiểm tra , thanh tra của các cơ quan Nhà nước trong việc tuân thủ phápluật .

 

ChươngIII

HỘI VIÊN

Điều5 . Hội viên

1.     Hội viên chínhthức :

Là công dân ViệtNam , sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh , có đầy đủ năng lực hành vi dânsự , không bị truy cứu trách nhiệm hình sự , có đủ tiêu chuẩn chuyên môn hoạtđộng chuyên nghiệp trên các lĩnh vực : Hội hoạ , Đồ hoạ , Điêu khắc , Trang trí Mỹ nghệ , Gallery và Phê bình Mỹ thuật , tán thành điều lệ Hội , tự nguyện làm đơn xin gia nhập Hội , đều có thểtrở thành hội viên chính thức của Hội  .

Người xin vàoHội cần nộp đơn tại một chuyên ngành thuộc Hội . Chuyên ngành đó họp xét duyệtgiới thiệu với Ban Chấp Hành Hội xét duyệt trong cuộc họp xét kết nạp hội viênmới hằng năm và ra quyết định công nhận hội viên Hội Mỹ Thuật TP HCM . Sau khiđược kết nạp vào Hội , hội viên đó sinh hoạt và chịu sự quản lý của ngành đó .Nếu sau thời gian 1 năm , hội viên muốn chuyển sinh hoạt về chuyên ngành khácphải làm đơn , chuyên ngành cũ đồng ý giới thiệu sang chuyên ngành mới và BCHhọp xét ra quyết định .

Việc xét và công nhận hội viên do Ban chấp hành Hội Mỹ Thuật thành phố Hồ Chí Minh quy định .

2.     Hội viên liên kết và hội viên danh dự

a)     Hội viên liênkết

Lànhững người không tham gia hoạt động chuyên môn nhưng tình nguyện hỗ trợ vàđóng góp thường xuyên tài chánh cho Hội , được Ban chấp hành công nhận là hội viên liên kết .

b)    Hội viên danh dự

Nhữngcá nhân đặc biệt có tâm huyết với Hội , có đóng góp tích cực cho hoạt động vàsự phát triển của Hội nhưng vì lý do nào đó không thể tham gia sinh hoạt vớiHội , nếu được sự đồng ý của đa số Ban chấp hành Hội , được Ban chấp hành mờitham gia .

Hộiviên liên kết , hội viên danh dự được tham gia các hoạt động , tham dự Đại hộicủa Hội , được hưởng các quyền và nghĩa vụ như hội viên chính thức , trừ quyềnbầu cử , ứng cử , đề cử vào Ban Lãnh đạo của Hội và biểu quyết các vấn đề củaHội .

Điều 6 . Hội viện có nghĩa vụ

1. Chấp hànhđiều lệ Hội , thực hiện Nghị quyết Đại hội , Nghị quyết của Ban Chấp Hành vàcủa Ban Thường vụ , đóng hội phí đầy đủ .

2. Tham gia cáchoạt động đóng góp công sức , trí tuệ , tiền của phục vụ cho mục đích của Hộivà sinh hoạt trong tổ chức Hội .

3.     Tuyên truyền tônchỉ mục đích của Hội .

4.     Đoàn kết hợp tácgóp phần xây dựng và củng cố tổ chức Hội ngày

càng vững mạnh .

5. Tôn trọng vàbảo vệ tài sản Hội . Đóng góp công sức xây dựng Hội ngày càng phát triển vềnghệ thuật , về cơ sở vật chất . Đoàn kết xây dựng đội ngũ hội viên ngày càng lớnmạnh về số lượng và nâng cao chất lượng .

6. Giới thiệuhội viên mới theo quy định của pháp luật .

7. Chịu tráchnhiệm về các hoạt động sáng tác và công bố tác phẩm của mình ra công chúng , không vi phạm các quy định về công bốtácphẩm , Luật bản quyền và sở hữutrí tuệ Nhà nước đã ban hành

8. Tham gia đầyđủ và đều đặn các buổi sinh hoạt , hội họp do Hội tổ chức . Luôn giúp đỡ , hợptác , tôn trọng lẫn nhau . Không lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi , xâm phạmđến lợi ích của cá nhân , tổ chức.

9. Có tác phẩmtham dự triển lãm ít nhất 5 lần trong 1 nhiệm kỳ

10. Hội viên khibị cơ quan pháp luật ra quyết định khởi tố hình sự phải có nghĩa vụ nhanh chóngthông báo bằng văn bản cho Hội biết .

Điều7 . Hội viên chính thức có các quyền hạn

1. Có quyền đềcử , ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo Hội . Tham gia ý kiến vào chủ trương ,phương hướng hoạt động của Hội .

2. Được cấp thẻHội viên theo quy định .

3. Có quyền xinra khỏi Hội khi thấy không thể hoặc không muốn tiếp tục tham gia . Trong trườnghợp nầy hội viên cần thông báo chính thức bằng văn bản ( đơn ) cho Hội , nêu rõlý do ra khỏi Hội và phải được Ban chấp hành Hội phê duyệt .

.4. Được bảo hộpháp nhân hành nghề sáng tạo nghệ thuật , bảo hộ các quyền tác giả , quyềnthông tin trao đổi và công bố các tác phẩm nghệ thuật do mình sáng tạo ra ởtrong nước và quốc tế theo pháp luật quy định.

5. Được phê bình, chất vấn các cấp lãnh đạo Hội trong các buổi sinh hoạt Hội theo quy định .

6. Được sự giúpđỡ của Hội trong việc hành nghề , sáng tạo nghệ thuật .

7. Được bầu Đạibiểu tham dự Đại Hội của Hội và Liên Hiệp các Hội văn học nghệ thuật thành phố theoquy định .

8. Được hưởng quyềnvà lợi ích khác do Hội quy định và theo đúng quy định pháp luật .

9. Hội viên trên70 tuổi được miễn đóng hội phí .

Điều8 . Tư cách hội viên

Tư cách hội viênsẽ không còn nếu xảy ra một trong những trường hợp sau :

-Hội viên đãđịnh cư ở nước ngoài đương nhiên không còn là hội viên và sẽ bị xoá tên trongdanh sách hội viên của Hội .

– Hội viên viphạm Điều lệ Hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành có thể bị phê bình , cảnhcáo , khai trừ .

– Hội viên 2 nămkhông hoạt động , không đóng hội phí mà không có lý do chính đáng sẽ bị xoá tên.

Sau khi bị xoátên , nếu hội viên khắc phục các lỗi vi phạm nói trên và có nguyện vọng xinđược tiếp tục sinh hoạt Hội thì phải làm đơn nói rõ lý do và đề nghị Ban ChấpHành Hội xem xét cho sinh hoạt trở lại .

CHƯƠNGIV

TỔCHỨC HỘI

Điều9. Cơ cấu tổ chức Hội

Cơ quan quản lý điều hành Hội gồm :

– Đại hội ;

– Ban Chấp hành ;

– Ban Thường vụ ;

– Ban Kiểm Tra ;

– Hội Đồng nghệ thuật ;

– Các chuyên ngành thuộc Hội , Câu lạcbộ ;

Điều10. Đại hội của Hội

Cơ quan lãnh đạocao nhất của Hội là Đại hội đại biểu hoặc Đại hội toàn thể hội viên , nhiệm kỳĐại hội là 5 năm .

Có 2 loại đạihội là : Đại hội thường kỳ và Đại hội bất thường .

Đại hội thườngkỳ có nhiệm vụ thông qua các báo cáo hoạt động , báo cáo tài chánh và phươnghướng công tác nhiệm kỳ tới , sửa đổi , bổ sung Điều lệ ( nếu cần thiết ) , bầuBan Chấp Hành .

Đại hội bấtthường được triệu tập khi có ít nhất 2/3 tổng Uỷ viên Ban chấp hành hoặc có ítnhất 1/3 tổng số hội viên chính thức đề nghị .

Số lượng đạibiểu dự Đại hội do Ban Chấp Hành quyết định .

Việcquyết định các nội dung của Đại hội được thông qua bằng hình thức bỏ phiếu kínhoặc biểu quyết dơ tay do Đại hội quyết định . Quyết định được thông qua khi cótrên ½ tổng số đại biểu có mặt đồng ý .

Điều11. Ban chấp hành

Ban Chấp Hành dođại hội trực tiếp bầu bằng phiếu kín , Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo caonhất giữa 2 kỳ đại hội .

Số lượng thànhviên Ban chấp hành do Đại hội quy định theo số lượng hội viên ( từ 15-17 Uỷviên Ban chấp hành ) . Các Uỷ viên Ban chấp hành phải đạt số phiếu trên quá bán.

Banchấp hành có nhiệm vụ :

-Lãnh đạo thựchiện và cụ thể hoá các nghị quyết của Đại Hội và đề ra những biện pháp thựchiện .

– Đề ra các chủtrương kế hoạch hoạt động của Hội , duyệt xét các kế hoạch , phương hướng ,nhiệm vụ của Ban Thường Vụ , Hội Đồng Nghệ Thuật , Ban Kiểm Tra , các chuyênngành của Hội , các Câu lạc bộ và cơ quan chuyên môn khác của Hội .

– Bầu Ban Thườngvụ , Ban Kiểm tra .

– Bầu Hội ĐồngNghệ thuật .

– Quyết định cơcấu tổ chức bộ máy của Hội .

– Quy định tiêuchuẩn kết nạp hội viên mới , quyết định kết nạp và khai trừ hội viên .

– Quy định mứcthu hội phí từng năm hoặc từng giai đoạn phù hợp với nhu cầu hoạt động của Hội.

Việc miễn nhiệmhoặc  bổ sung Ban Chấp Hành phải được sựđồng ý của 2/3 thành viên Ban Chấp Hành , số lượng bổ sung không quá 1/5 tổngsố thành viên Ban Chấp hành .

Uỷ viên Ban Chấphành được hưởng phụ cấp trách nhiệm . Mức phụ cấp tùy theo tình hình tài chánhcủa Hội do Hội quy định theo đúng pháp luật .

Điều12 . Ban Thường Vụ :

Ban Thường vụ đượcBan Chấp hành bầu ra bằng phiếu kín . Ban Thường Vụ là cơ quan thường trực điềuhành , lập kế hoạch , tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đại hội và Ban Chấphành , định kỳ báo cáo công việc với Ban Chấp Hành .

Số lượng BanThường vụ từ 5 đến 7 thành viên do Ban Chấp Hành Quyết định . Ban Thường vụ gồmcó : Chủ tịch hội , Phó Chủ tịch hội ( có từ 01 đến 02 Phó Chủ tịch Hội ) vàmột số Uỷ viên .

Ban Thường vụ bổnhiệm hoặc miễn nhiệm cán bộ , nhân viên các tổ chức trực thuộc Hội và chịutrách nhiệm trước Ban Chấp hành .

 

Điều13 . Chủ tịch

Chủ tịch là đạidiện của Hội trước pháp luật ,  chịutrách nhiệm điều hành các hoạt động của Hội là người hưởng lương tại Hội . Chủtịch đương nhiệm không quá 02 nhiệm kỳ liên tiếp .

Chủ tịch do BanChấp hành bầu ra trong số các Uỷ viên Ban Chấp hành .

Chủ tịch cóquyền giới thiệu danh sách các Phó Chủ tịch và Uỷ viên Ban Thường vụ để BanChấp hành bầu .

Chủ tịch cóquyền giới thiệu Trưởng ban Kiểm tra , Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật của Hội đểBan Chấp hành bầu .

Khi khuyết Chủtịch hoặc miễn nhiệm , Ban Chấp hành bầu Chủ tịch mới từ các Uỷ viên Ban Chấphành bằng phiếu kín và phải được quá 2/3 số phiếu của Uỷ viên Ban Chấp hànhnhất trí .

Kết quả bầu cửđược báo đến toàn thể hội viên

 

Điều14. Phó Chủ tịch

Phó Chủ tịch làngười giúp Chủ tịch phụ trách từng phần việc cụ thể và chịu trách nhiệm trước Chủtịch về các quyết định của mình trong những công việc đó . Giải quyết các côngviệc khi được Chủ tịch uỷ nhiệm . Phó Chủ tịch là người hưởng lương tại Hội .

Phó Chủ tịch doBan Chấp hành bầu và miễn nhiệm . Việc bầu và miễn nhiệm Phó Chủ tịch phải đượcquá 2/3 số Uỷ viên Ban Chấp hành nhất trí .

 

Điều15. Hội đồng Nghệ thuật :

Hội đồng Nghệthuật có nhiệm vụ thẩm định những giá trị nghệ thuật của các tác phẩm mỹ thuậtđược trưng bày tại các triển lãm trong và ngoài nước mang danh nghĩa của Hội vàcác giải thưởng của Hội , đề xuất các phương thức , biện pháp hoạt động nhằm nângcao chất lượng nghệ thuật . Bảo đảm định hướng nghệ thuật theo đường lối vănhoá văn nghệ của Đảng và Nhà nước .

Hội Đồng nghệthuật gồm có Chủ tịch Hội đồng , một số Phó Chủ tịch Hội đồng , Thư ký Hội đồngvà một số Uỷ viên Hội đồng được Ban Chấp hành bầu với quá 2/3 số Uỷ viên Banchấp hành nhất trí và Chủ Tịch Hội ra quyết định công nhận .

Chủ tịch Hộiđồng , Phó Chủ tịch Hội đồng , Thư ký Hội đồng là thành viên Ban Chấp hành .Các Uỷ viên Hội đồng do các chuyên ngành đề cử theo số lượng Ban Chấp hành quyđịnh .

Hội viên có tácphẩm tham dự giải thì không tham gia Hội đồng Nghệ thuật chấm giải đó

Việc miễn nhiệmhoặc bổ sung số thành viên Hội Đồng nghệ thuật của Hội phải được Ban Chấp hànhchấp thuận bằng phiếu kín và Chủ Tịch Hội ra Quyết định . Số Uỷ viên bổ sungkhông quá ¼ số uỷ viên chính thức .

 

Điều16. Ban Kiểm Tra

Ban Kiểm tra cótrách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện Nghị quyết , Điều lệ Hội , đề xuấtcác biện pháp giải quyết đơn , thư tố cáo các sai phạm của hội viên và cácthành viên cơ quan Hội để Ban Chấp hành xem xét giải quyết .

Ban Kiểm traphải được quá 2/3 số Uỷ viên Ban Chấp hành nhất trí bầu và Chủ tịch ra quyếtđịnh công nhận . Số lượng Ban Kiểm tra do Ban Chấp hành quy định  . Trưởng ban Kiểm tra phải là Uỷ viên Ban Chấphành ( và do Ban Chấp Hành bầu bằng phiếu kín ) .

Việc bổ sunghoặc miễn nhiệm một Uỷ viên của Ban Kiểm tra do Ban Kiểm tra đề nghị và phảiđược quá 2/3 số Uỷ viên Ban Chấp hành nhất trí , Chủ tịch ra quyết định .

Nhiệm kỳ của BanKiểm tra theo nhiệm kỳ của Ban Chấp hành .

Điều17. Chuyên ngành thuộc Hội

Chuyên ngành thuộcHội là tổ chức cơ sở chuyên môn của Hội , có chức năng quản lý theo dõi hoạtđộng sáng tạo của các nhóm và cá nhân hội viên theo chuyên ngành .

Chuyênngành thuộc Hội có nhiệm vụ :

– Giới thiệudanh sách hội viên tham gia trại sáng tác hằng năm và cử đại diện của ngànhtham gia các hoạt động hội thảo , tham quan và bồi dưỡng nghề nghiệp  do Hội tổ chức .

– Tổ chức giớithiệu tuyên truyền , quảng bá , giao dịch , thực hiện các hợp đồng theo các yêucầu của xã hội , điều tiết các hoạt động cho hội viên theo đúng khả năng sởtrường .

– Vận động gâyqũy ( theo đúng quy định Nhà nước ) và chăm lo phúc lợi cho hội viên dưới sựquản lý của Hội .

Ban Phụ tráchchuyên ngành và Hội đồng chuyên ngành do hội viên  chuyên ngành bầu ra . Tập thể hội viên chuyênngành bầu chọn ra đại diện chuyên ngành mình tham gia vào Hội Đồng Nghệ Thuật củaHội với số lượng theo quy định .

Các Ban Phụtrách chuyên ngành 03 tháng tổ chức họp , sinh hoạt một lần . Cuối mỗi quý vàcuối năm phải báo cáo bằng văn bản mô tả mọi hoạt động , tình hình của tổ chứcmình và đề xuất phương hướng hoạt động với Ban Chấp Hành Hội .

Các Uỷ viên BanChấp hành và Ban Thường vụ của Hội được uỷ nhiệm theo dõi sâu sát các hoạt độngchuyên ngành , hoạt động của hội viên để điều tiết với các chuyên ngành khác ởBan Chấp hành và Ban Thường vụ .

 

Điều18. Câu Lạc bộ

Câu Lạc bộ làcác nhóm chương trình hành động sáng tác , tổ chức từ 10 người trở lên theongành nghề bộ môn , theo xu hướng nghề nghiệp hoặc theo lứa tuổi , niên khoá tựgiác họp lại , tạo ra hiệu quả trong lao động nghệ thuật , giúp đỡ nhau trongcuộc sống , có chương trình nội dung hành động cụ thể , chương trình hoạt độngdo Ban Chấp Hành thông qua .

Câu lạc bộ đượcHội thành lập chủ yếu cho các hội viên của Hội tham gia , ngoài ra Ban ChủNhiệm các CLB có thể tổ chức kết nạp thêm các cảm tình viên của mình để cùngtham gia sáng tác và triển lãm nhưng phải báo cáo danh sách phát triển các cảmtình viên với Ban Chấp hành và Câu lạc bộ phải có quy định cụ thể về quyền lợi và trách nhiệm của thành viên đốivới tổ chức Câu lạc bộ  ( cảm tình viênCâu lạc bộ không phải là hội viên của Hội ) .

Ban Thường vụ sẽtheo dõi các hoạt động Câu lạc bộ thông qua các Ban phụ trách chuyên ngành doUỷ viên Ban Chấp Hành hoặc Ban Thường vụ đảm nhiệm .

Ban Chủ Nhiệmcác Câu Lạc Bộ 03 tháng tổ chức họp , sinh hoạt một lần . Cuối mỗi quý và cuốinăm phải báo cáo bằng văn bản mô tả mọi hoạt động , tình hình của tổ chức mìnhvà đề xuất phương hướng hoạt động tới với Ban Chấp Hành Hội .

 

ChươngV

TÀICHÁNH HỘI

 

Điều19 . Tài chánh của Hội

Nguồn tài chánh của Hội bao gồm :

– Ngân sách Nhà nước hỗ trợ và tài sảndo Nhà nước giao cho Hội quản lý và sử dụng .

– Hội phí của Hội viên .

– Nguồn đóng góp tự nguyện của hội viên.

– Tài trợ , viện trợ của các tổ chức ,cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ .

– Thu nhập từ các hoạt động nghiệp vụ ,kinh tế của Hội được thành lập theo quy định của Nhà nước .

 

Điều20. Quản lý sử dụng tài sản , tài chính Hội

Tài sản và tàichánh Hội được sử dụng cho mục đích đã được quy định trong chức năng của đơn vịtheo đúng quy định của nhà nước .

Tài sản và tàichánh của Hội được sử dụng cho mục đích hoạt động theo kế hoạch chung của Hộido Ban Chấp hành quyết định và theo đúng quy định của nhà nước .

ChươngVI

KHENTHƯỞNG – KỶ LUẬT

 

Điều21. Khen thưởng

1.Hội viên cóthành tích trong các hoạt động Hội được Hội xét tặng giấy khen , bằng khen .Được đề nghị Nhà nước và cơ quan chức năng tặng giải thưởng và các hình thứckhen thưởng khác theo quy định .

2.Ban Chấp hànhlà cơ quan xét khen thưởng và đề nghị với cơ quan cấp trên xét khen thưởng theoquy định .

Điều22. Kỷ luật

1. Hội viên viphạm pháp luật Nhà nước và Điều lệ của Hội sẽ bị kỷ luật với các hình thức sau: Khiển trách , cảnh cáo , xoá tên , khai trừ ra khỏi Hội . ( Hội viên bị khởitố hình sự thì bị đình chỉ sinh hoạt Hội . Nếu hội viên bị kết án từ tù treotrở lên thì bị khai trừ ra khỏi Hội ) .

2. Việc thi hànhkỷ luật hội viên do Ban Kiểm tra đề nghị và Ban Chấp hành quyết định .

ChươngVII

ĐIỀUKHOẢN THI HÀNH

 

Điều 23.  Chỉ có Đại hội toànthể ( hoặc Đại hội đại biểu ) mới có thẩm quyền đề nghị bổ sung sửa đổi Điều lệvới 2/3 số đại biểu có mặt tán thành và được Uỷ Ban nhân dân thành phố phêduyệt mới có giá trị thi hành .

Điều 24 . Điều lệ nầy có hiệu lực thi hành kể từngày được Đại hội thông qua và được Uỷ Ban Nhân dân thành phố phê duyệt .

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI MỸ THUẬT TP. HỒ CHÍ MINH. 

Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là tổ chức xã hội chính trị nghề nghiệp, sau này được sắp vào diện hội đặc thù. Nhiệm vụ của Hội là tổ chức, tập họp, quy tụ các nghệ sĩ họat động trong lĩnh vực mỹ thuật tạo hình lẫn mỹ thuật ứng dụng. Phương châm hoạt động của Hội là đoàn kết, tôn trọng sự tự do sáng tạo của mọi tầng lớp nghệ sĩmỹ thuật trên cơ sở đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng; tiếp thu tinh hoa vănhóa mỹ thuật thế giới; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Lịch sử của Hội Mỹ thuật  thành phố Hồ Chí Minh là một dòng chảy của toàn bộ các hoạt động tập họp, tổ chức phát huy sáng tạo cá nhân của các hội viên thông qua các chuyên ngành, các câu lạc bộ để phục vụ cho sự nghiệp văn hóa nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung từ 1975 cho đến nay…

Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách xuyên suốt của hoạt động mỹ thuật cách mạng thì có thể kết nối sự kiện sự ra đời của Phòng Hội họa Giải phóng như là tiền thân của Hội Mỹ thuật thành phố mang tên Bác Hồ.Phòng Hội họa là biểu tượng của sự tập hợp lực lượng nghệ sĩ mỹ thuật giải phóng phục vụ cho cuộc kháng chiến giải phóng hoàn toàn miền Nam dưới sự lãnh đạo của Trung Ương Cục “R”.

Trong những tháng cuối năm 2013, tại thànhphố Hồ Chí Minh cũng làm Lễ Kỷ niệm 50 thành lập Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP,Hồ chí Minh ( 1963-2013). Tiền thân của Liên hiệp cũng chính là Hội Văn nghệ Giải phóng Khu Sài Gòn-Gia Định thành lập năm 1963 .

Nếu lấy mốc lịch sử là ngày thống nhất đất nước thì chúng ta có thể khái quát phân chia chuỗi hoạt động từ khi thành lập Hội Mỹ thuật cho đến nay ra các giai đoạn như sau:

*Giai đoạn từ 1975 đến 1981

Sau khi miền Nam hoàntoàn giải phóng, nước nhà thống nhất, các nghệ sĩ từ Phòng Hội họa Giải phóng trở về Sài Gòn để tiếp quản các trường mỹ thuật, các cơ quan văn hóa liên quan đến mỹ thuật. Họa sĩ Cổ Tấn Long Châu và Nguyễn Văn Kính về tiếp quản haitrường mỹ thuật: Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn (thành lập cuối năm 1954)và Quốc gia Trang trí Mỹ thuật Gia Định( tiền thân là Trường Vẽ Gia Định, thànhlập năm 1913). Dưới sự lãnh đạo của Nhà Nước Cách mạng, ngay sau ngày Giảiphóng hai trường này được sáp nhập lại thành một trường với tên gọi mới làTrường Cao đẳng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (đến năm 1981 thì Bộ Văn Hóa mới cho phép Trường Mỹ Thuật Hà Nội và Trường Cao đẳng Mỹ thuật TP,Hồ Chí Minh trở thành Trường Đại học. Cho nên chúng ta có Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 19-5-1975, tại Thư viện Quốc gia Sài Gòn, chính quyền cách mạng đã tổ chức cuộc triển lãm mỹ thuật giải phóng đầu tiên mừng Sinh nhật lần thứ 85 của Bác Hồ gồm nhiều tranh ký họa, tranh bột màu và sơn dầu đề tài chiến tranh của các họa sĩ từ chiến khu ra.

Hồi ấy, lực lượng mỹ thuật tập trung tại thành phố gồm các nghệ sĩ từ chiến khu ra (R), từ miền Bắcvào (A) và lực lượng họa sĩ của Sài Gòn. Như vậy, chúng ta có lực lượng nghệ sĩ xuất thân từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau: miền Bắc, Liên Xô,Ba Lan, Tiệp Khắc, CHDC Đức, Trung Quốc, miền Nam, Pháp, Mỹ, Ý, Nhật, Anh…Đây là nét đặc trưng riêng của mỹ thuật Sài Gòn sau giải phóng.

Kế tiếp gần hai tháng sau, ngày 4 và 5 tháng7 năm 1975 Hội nghị lần thứ nhất ngành mỹ thuật giải phóng được tổ chức.

Đây là cuộc vận động nhằm mục đính thống nhấtlực lượng mỹ thuật “R”,”A” và tại chỗ. Ngay sau đó Hội Mỹ thuật Giải phóng ra đời. Có thể nói đây là bước chuyển mình từ Phòng Hội họa Giải phóng thành Hội Mỹ thuật Giải phóng để lãnh đạo lực lượng mỹ thuật thống nhất nói trên.

So với giai đoạn thứ nhất (từ 1975 trở về trước) thì giai đoạn hợp nhất này lực lượng nghệ sĩ và tài năng nghệ thuật được nâng lên; quy mô tác phẩm được sáng tác bắt đầu lớn hơn,chất lượng sâu hơn, đề tài sáng tác phong phú hơn, hình thức thể hiện đa dạng hơn trước.(trước kia đa số là ký họa).

Thời gian này hoạt động sáng tác mỹ thuật chủ yếu phục vụ cho các ngày lễ lớn trong năm hay các sự kiện chính trị quan trọng.

Lúc này, ngoài lực lượng nghệ sĩ từ chiến khura được phân công lãnh đạo tại các tổ chức văn hóa nghệ thuật gồm: Huỳnh Phương Đông, Quách Phong, Phạm Đỗ Đồng, Nguyễn Thanh Châu và tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh gồm: Cổ Tấn Long Châu, Nguyễn Văn Kính.

Trong giai đoạn này nhiều nghệ sĩ, chiến sĩ từ chiến khu ra được đưa vào Trường Mỹ thuật để đào tạo,nâng cao hơn về tay nghề; như các anh chị Phan Phương Trực, Phạm Chiến, PhanOánh, Nguyễn Toàn Thi, Phan Hữu Thiện, Phan Hoài Phi, Võ Thanh Hoàng, Lê Dân,Vũ Thanh Hoa, Hồng Xuân, Đặng Ái Việt, Hà Thị Hạnh, Trần Xuân Hòa, Liêu Tử Phong, Kao Vân Khánh, Thái Kiến Huê, Ba Trắng, Lê Minh, Phạm Chiến, Ngô Đồng,Lê Anh Ty, Phạm Anh Tỵ, Phạm Hồng Phong…

Trong những năm đầu sau khi thống nhất đất nước, Trường Mỹ thuật và tổ chức chuyên môn là Hội Văn học nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh được coi là pháo đài tư tưởng nghệ thuật xã hội chủ nghĩa.

Vào tháng 12-1976 cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội. Đây là sự kiện quan trọng và rất mới đối với giới nghệ sĩ mỹ thuật sống tại Sài Gòn. Tại cuộc triển lãm này có 800 tác phẩm được trưng bày, trong đó có 200 từ miền Nam gửi ra. Đây cũng là lần đầu tiên triển lãm mỹ thuật toàn quốc tập hợp được nghệ sĩ ba miền, đúng nghĩa “Bắc Nam một nước, văn nghệ một nhà”.

Xét về góc độ nghề nghiệp thì khoảng thời gian này là điều kiện tốt để các họa sĩ chuyên vẽ về ký họa bắt đầu đi sâu vào sáng tác tranh thật sự.

Sau hội nghị hiệp thương 2 năm thì Hội Mỹ thuật Giải phóng giải tán. Lúc này lực lượng nghệ sĩ mỹ thuật của Hội Mỹ thuật Giải phóng tách ra làm hai nhóm: một nhóm hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Mỹ thuật trực thuộc Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm thứ hai đứng ra thành lập chi nhánh phía Nam của Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự ra đời của Bảo tàng Quân khu 7, ở đó tập trung tuyển chọn, trưngbày các tác phẩm mỹ thuật về đề tài chiến tranh cách mạng.

Đến tháng 5 /1978 giới mỹ thuật thành phố mới có cuộc triển lãm mỹ thuật quy mô lớn, lấy tên làTriển lãm mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất, để chào mừng Kỷ niệmsinh nhật lần thứ 88 của Bác Hồ. Triển lãm trưng bày khoảng 300 tác phẩm của130 tác giả các vùng miền đang sống tại đây. Có thể nói đây là bước tập họp lựclượng quy mô rộng lớn đầu tiên (ba năm trước,năm 1975, triển lãm cho mừng Sinhnhật Bc Hồ chỉ có tác phẩm của họa sĩ từ chiến khu ra )..

Từ năm 1979, đất nước chúng ta lại bước vàogiai đoạn lịch sử cam go: vừa hòa bình lại vừa có chiến tranh. Lúc này lực lượng nghệ sĩ  từ mọi vùng miền, mọi nguồn đào tạo được tập hợp để phục vụ cho công cuộc cải tạo xã hội, xây dựng,bảo vệ nhà nước cách mạng… đồng thời chiến đấu chống quân xâm lược từ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng nghệ sĩ cả thành phố cũng như cả nước thể hiện vai trò”nghệ sĩ vẫn là chiến sĩ” trong các tác phẩm tố cáo âm mưu thâm độc của kẻ thù lấn chiếm biên giới Tây Nam và phía Bắc. Chưa bao giờ truyền thống yêu nước trỗi dậy mạnh như lúc này. Nhiều tác phẩm nghệ thuật lúc này làm bừng dậy hào khí chiến đấu chống ngoại xâm. Các nghệ sĩ đã thể hiện thái độ yêu nước quyết tâm giữ vững biên cương, chống kẻ thù bành trướng bằng nhiều đợt sáng tác tranh cổ động; đồng thời tham gia sáng tác chống lại các sản phẩm văn hóa đồi trụy, góp phần xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa.

Nếu khoảng thời gian13 năm từ 1962-1975 là thời kỳ mà tại chiến khu, trên các mặt trận người nghệ sĩ đã cống hiến xương máu, hy sinh oanh liệt cho công cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, hòa bình cho đất nước thì khoảng thời gian sáu năm từ 1975 -1981 là  giai đoạn mà người nghệ sĩ cùng toàn dân bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng nước Việt Nam độc lập, tựchủ  đồng thời chống lại dã tâm của  kẻ thù xâm lăng biên giới phía Nam và biên giới phía Bắc trong thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp.

 

*Giai đoạn  từ 1981 đến 1986

Đây là giai đoạn mà các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh và cả nước đã hàm chứa những nhu cầu, khát vọng phải đổi mới, thoát khỏi cơ chế quan liêu, nền kinh tế bao cấp trì trệ đi cùng với nạn “ngăn sông cấm chợ”.Trong giai đoạn này tại thành phố có sự ra đời của các hội chuyên ngành văn học nghệ thuật, trong đó có Hội Mỹ Thuật Thành phố Hố Chí Minh (1981).

Hội Mỹ thuật ra đời theo quyết định  số 276/QĐ-UB của Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh (ký ngày 28 -11-1981) là bước ngoặt cực kỳ quan trọng,khẳng định đây là đoàn thể chính trị xã hội nghề nghiệp dưới sự lãnh đạo củaThành ủy và đi theo đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng. Hội Mỹ thuật ra đờivới số hội viên gần 300 người, hoạt động theo sáu chuyên ngành: hội họa, điêukhắc, đồ họa, lý luận, trang trí nội thất và mỹ nghệ.

Cũng trong năm 1981 Trường Cao đẳng Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh được nâng cấp, đổi tên thành Đại học Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh như đã nói ở trên ; qua đó cho thấy sự quan tâm của các cấp lãnh đạo về sự phát triển của lĩnh vực mỹ thuật cả nước.

Trong nửa nhiệm kỳ thứ nhất của Hội Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh (1981- 1985), các hoạt động mỹ thuật của thành phố đã đi vào quy cũ hơn với các chuyên ngành theo sự định hướng củamột tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp. Lúc này trong Ban chấp hành Hội Mỹ thuật là sự kết hợp của  bốn thành phần như :

*Một là những nghệ sĩ đang trực tiếp tập hợp, quản lý các họat độngsáng tác mỹ thuật tại thành phố như: Trang Phượng, Quách Phong, Diệp Minh Châu,Huỳnh Phương Đông, Thái Hà, Nguyễn Thanh Châu…

*Hai là lực lượng cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật như: Cổ Tấn Long Châu, Nguyễn Phước Sanh, Hoàng Trầm, Phạm Mười, Trịnh Kim Vinh…

*Ba là các cán bộ chiến sĩ đang theo học tại Trường Đại học Mỹ thuật như: Hà Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Đông, Võ Xưởng, Phan Oánh, Trần Xuân Hòa,

*Bốn là các nghệ sĩ ở Sài Gòn như: Nguyễn Trung, Nguyễn Văn Triêm, Lê Bá Đáng, Mai Lang Phương, Nguyễn Văn Đôn…

Cũng như giai đoạn 1975-1981, thời kỳ này hoạtđộng mỹ thuật vẫn nằm trong sự vận hành của nền kinh tế tập trung, quan liêu,bao cấp. Đây là giai đoạn mà chiến sĩ chúng ta đã anh dũng hy sinh để bảo vệ biên giới, chống ngoại xâm với sự ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân trong đó có văn nghệ sĩ,.

Khoảng thời gian nầy dù là thời bình nhưng cuộc sống nói chung vẫn còn hết sức gian khổ; cho nên tại thành phố chúng ta chưa có tác giả nào tổ chức triển lãm cá nhân.

 

*Giai đoạn từ 1986 đến 1992

Năm 1986 Đảng và Nhà nước ta chủ trương banhành chính sách mở cửa, hội nhập về kinh tế và văn hóa để đổi mới đưa cả nướcđi lên thoát khỏi cảnh khó khăn của nền kinh tế hậu chiến và kẻ thù âm mưu xâm lấn, gây chiến ở biên giới phía Nam và phía Bắc. Có thể nói đây là liều thuốc hồi sinh cho nên giai đoạn nầy tất cả các lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,văn học nghệ thuật bắt đầu có sự chuyển mình để hướng vào xu thế mở cửa, hộinhập. Các đặc điểm đáng nhớ của giai đoạn này có thể liệt kê như sau:

1. Đây cũng là thời gian mở đầu, làm hồi sinh tất cả các lãnh vực mỹ thuật ứng dụng của Sài Gòn-Gia Định, thể hiện sự quan tâm nhiều hơn của Nhà nước đối với hoạt động mỹ thuật và sự tìm tòi đổimới của các nghệ sĩ, chiến sĩ về ngôn ngữ nghệ thuật. Nhiều cơ sở sản xuất mỹ thuật đời sống ra đời.

2. Sự ra đời của Bảo tàng Mỹ thuật vào năm 1987, cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với công tác sưu tập, đánh giá, giữ gìn, bảo tồn, trưng bày, phổ biến tác phẩm mỹ thuật để tiến dần đến hệ thống tổ chức quản lý sáng tác. Tại Bảo tàng Mỹ thuật,  giám đốc-họa sĩ Nguyễn Toàn Thi đã dựng bia kỷ niệm các liệt sĩ của Phòng Hội họa Giải phóng và hàng năm tổ chức ngày tưởng niệm các nghệ sĩ-chiến sĩ đã hy sinh…

3. Nhờ sự đổi mới mà hoạt động sáng tác, triển lãm mỹ thuật đã bắt đầu có sức sống mới kể từ năm 1988, khởi đầu chocác triển lãm là cuộc triển lãm cá nhân của họa sĩ Rừng (Nguyễn Tuấn Khanh).Theo thống kê của Hội Mỹ thuật, trong năm 1988 có đến 26 lượt triển lãm và số lần triển lãm cứ tăng dần lên những năm sau đó. Đến năm 1992 thì  tổng số lần triển lãm tăng vọt lên 130. Từ đócho đến năm 2011, sau 19 năm chưa có năm nào có số lượt triển lãm vượt trên consố 120 lượt (năm 1993 có 128 triển lãm).

4. Đỉnh cao của sự chuyển biến dẫn đến về phong phú hóa các khuynh hướng biểu đạt nghệ thuật thể hiện trong cuộc triển lãm chuyên đề về tranh trừu tượng được tổ chức tại Gallery Hoàng Hạc (số2 Lê Duẩn) vào năm 1992. Đây là cuộc giao lưu về nghệ thuật trừu tượng giữa họasĩ TP.Hồ Chí Minh và các họa sĩ thuộc Hội Mỹ thuật Hiện đại của Singapore dohọa sĩ Thomas Yeo dẫn đầu. Giai đoạn này là bước đệm cho thời kỳ đổi mới, đưamỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh lên bước phát triển mới.

5. Thêm một điểm đáng nhớ là tronggiai đoạn này là sự kiện mỹ thuật quan trọng: cuộc triển lãm mỹ thuật quốc tế”Cái nhìn từ hai phía” tổ chức tại Hoa Kỳ do sự vận động của họa sĩ David Thomas. Đây là cuộc triển lãm giao lưu giữa các họa sĩ-cựu chiến binhViệt Nam và Hoa Kỳ; mở đầu cho nhiều cuộc triển lãm giao lưu quốc tế, sưu tậptranh ký họa kháng chiến của họa sĩ Việt Nam.

6.Tại Trường Đại Học Mỹ thuật, Bộ Văn hóa cho phép Ban Giám Hiệu nhà trường vận dụng chủ trương “Mềm hóa mục tiêu đào tạo” để mở thêm Khoa Mỹ thuật ứng dụng đào tạo nguồn nhân lựccó khả năng đưa mỹ thuật vào kinh tế sản xuất, thẩm mỹ hóa sản phẩm xã hội,phục vụ cho nhu cầu mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa trong thời đại mới.Tiếp theo sau đó là hàng loạt trường trong nước và thành phố Hồ Chí Minh, ngành mỹ thuật, thiết kế ra đời đẩy mạnh nhịp sống đổi mới của nền kinh tế thị trường. Từ đó con số  sinh viên tốt nghiệp ra trường  trở thành nghệ sĩ mỹ thuật hàng năm mỗi tăng lên.

Sự kiện này cũng tác động đến vai trò của Hội Mỹ thuật như là sân sau dành chonhững sinh viên mỹ thuật tập hợp để đi vào hoạt động chuyên nghiệp.

7. Sau khi các cuộc triển lãm cá nhân, sự giao lưu của các nghệ sĩ ở thành phố với các địa phương ,với nước ngoài thì tại thành phố nàycũng xuất hiện các mạnh thường quân, các nhà söu tập tranh hỗ trợ cho hoạt động mỹ thuật như: ông Nguyễn Đăng Quang, bà Quỳnh Nga (chủ nhà hàng Thanh Niên) và bắt đầu có các gallery ra đời…

 

*Giai đoạn từ 1992 cho đến ngày nay

Đây là giai đoạn dài nhất kéo dài  20 năm, cũng là thời gian mà công cuộc đổi mới, hội nhập tác động toàn diện, mọi mặt của đời sống, trong đó có hoạt động mỹ thuật. Những đặc điểm chủ yếu của thời gian này có thể kể như sau:

1. Nhiều trường lớp, chuyên ngành mỹ thuật tiếp tục ra đời, trong đó có các chuyên ngành mỹ thuật ứng dụng. Nhiềuhội chuyên ngành của lãnh vực này ra đời như: Hiệp hội Quảng cáo, Hội Mỹ nghệ Kim hoàn, Hội Mỹ nghệ chế biến gỗ…với nhiều cuộc thi thiết kế từ nội địa cho đến quốc tế: logo, biểu tượng, thời trang, poster, kim hoàn, trang trí nộithất…Có một số họa sĩ trẻ, nhà thiết kế của chúng ta đạt Giải thưởng quốc tế về thi thiết kế thời trang và đồ họa: Ngô Thái Uyên, Mai Thu Ngân…

2*Thành quả của chủ trương đổi mới đã tạo điều kiện tốt cho hoạt động các hội chuyên ngành thông qua sự quan tâm của lãnh đạo, sự đoàn kết, nhiệt tình của Ban Chấp hành, sự phấn khởi của nghệ sĩ cho nên mỗi năm Hội Mỹ Thuật tổ chức từ tám đến mười trại sáng tác để đưa nghệ sĩ thâm nhập thực tế đời sống từ Quảng Trị trở vào Cà Mau.Hội đã thiết lập quy chế hoạt động của trại sáng tác rất chặt chẽ.

Qua đó hực hiện phương châm: Nghệ thuật gắn liền với thực tế đời sống; đưa kết quả sáng tác, tác phẩm của các trại về phục vụ cho nhân dân các địa phương…qua đó tạo sự liên kết chặt chẽ giữa Hội Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương bạn.

Đặc biệt là phương pháp đầu tư sáng tác của Hội rất thực tế. Rút kinh nghiệm về các đầu tư sáng tác của các nhiệm kỳ trước: ứng tiền trước, nghiệm thu tác phẩm sau…dẫn đến một số tác giả nợ đầu tư. Trong hai nhiệm kỳ qua việc xét chọn đầu tư dựa trên kết quả chất lượng tác phẩm được Hội đồng Nghệ thuật tuyển chọn.Cách này hợp lý được mọi người tán thành, kích thích sự sáng tạo.

3*Liên tục có nhiều cuộc triển lãm giao lưu giữa Việt Nam và quốc tế; nhiều họa sĩ trẻ Việt Nam đoạt Giải thưởng quốc tế như Philip Morris, Nokia; nhiều nhà sưu tập tranh quốc tế vào Việt Nam để khởi động thị trường tranh; đời sống của nghệ sĩ đã khá hơn trước.

4*Một số nghệ sĩ trẻ bắt đầu tiếp cận, thực hành sáng tác theo ngôn ngữ nghệ thuật hậu hiện đại như:Nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn với các tác giả: Lê Tùng Quan, Mai Anh Dũng, Đỗ Xuân Tịnh, Cao Tuân, Nguyễn Hồng Sơn, Ngô Thái Uyên, Ly Hoàng Ly,Ngô Lực, Nguyễn Như Huy, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thị Kiều Giang, Châu Giang,Phan Đình Phúc…Cuộc triển lãm theo khuynh hướng này diễn ra đầu tiên vào ngày18/04/1997 tại không gian của Trường Đại học Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiều năm qua, mặc dù giới trẻ thành phố Hồ Chí Minh có tiếp cận với các ngôn ngữ hậu hiện đại như vừa nói ở trên, nhưng trên thực tế ứng dụng thì trong thời gian qua cho thấy họ không coi đó là ngôn ngữ được yêu thích mà chỉ là sự thể hiện cho biết. Trên thực tế họ không được giảng dạy và học tập loại ngôn ngữ này.

*Ghi chú: Body Painting là một biểu hiện của Body Art nhưng nó nhẹ nhàng hơn nhiều.

Thực hiện chủ trương của cấp trên là các Hội chuyên ngành tìm cách dần dần trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo Hội cũng như trước sự nhiệt tình, tài năng sáng tạo trẻ Ban Thường vụ Hội Mỹ thuật có nhiều biện pháp tiếp cận lực lượng ngay ở hai năm cuối của Trường Mỹ thuật để khuyến khích,động viên họ tham gia dần vào không gian chuyên nghiệp. Từ đó đã thu hút, tập hợp lực lượng nghệ sĩ trẻ có tham gia sáng tác theo đề nghị của Hội và đã  xem xét hỗ trợ kinh phí cho tác giả trẻ có tác phẩm tốt được Hội đồng Nghệ thuật bình chọn, mời các tác giả trẻ tham gia các trại sáng tác của Hội.

Đây là biện pháp thiết thực để giúp các bạn trẻ tích lũy được hoạt động sáng tạo,thành tích, quen dần với không gian chuyên nghiệp…rồi dựa vào đó mà kết nạp ngay sau khi các tác giả trẻ này vừa tốt nghiệp, rời nhà trường.

Đặc biệt là cứ hai năm một lần Hội Mỹ thuật thành phố phối hợp với trường Đại học Mỹ thuật TP, Hồ Chí Minh và sự hỗ trợ của Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức sự kiện Biennale Mỹ thuật Trẻ vào các năm lẻ như 2009,2011,2013…

5*Các khuynh hướng ngôn ngữ nghệ thuật thị giác được mở rộng ngày càng nhiều. Ngày nay mọi người đã quen với các ngôn ngữ mà trước khi mở cửa hội nhập còn lạ lẫm, chưa được các nghệ sĩ mạnh dạn thể hiện: lập thể, bán trừu tượng, trừu tượng và một số cách diễn đạt của ngôn ngữ hậu hiện đại như nghệ thuật sắp đặt (Installation art), nghệ thuật trình diễn (Performance art), Nghệ thuật kỹ thuật số (Digital art). Khuynh hướng nghệ thuật thân thể (Body art) chưa phổ biến nhưng ngôn ngữ vẽ trên người (Body Painting) đã đang được nhiều bạn trẻ thành phố sử dụng trong các sự kiện văn hóa.

6*Số lượng Câu Lạc Bộ của Hội Mỹ thuật thành phố tăng lên đến mười lãnh vực:  Câu lạc bộ họa sĩ trẻ, Câu lạc bộ họa sĩ nữ,Câu lạc bộ họa sĩ cao tuổi, Câu lạc bộ họa sĩ cựu chiến binh-kháng chiến, Câu Lạc bộ mỹ thuật Người Hoa và những người yêu thích tranh thủy mặc, Câu Lạc bộ Gốm Mỹ thuật, Câu lạc bộ Sơn mài Sài gòn, Câu lạc Bộ Đồ họa, Câu Lạc bộ DigitalArt, Câu lạc bộ Mê Kông Art.

7*Có rất nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc tham gia kháng chiến đã quan tâm nghiên cứu về kỹ thuật, chất liệu để đổimới ngôn ngữ biểu hiện nghệ thuật, có thể kể: Phạm Đỗ Đồng, Bùi Quang Ánh, Phan Phương Trực, Trịnh Thanh Tùng, Dương Sen, Ngô Đồng, Lương Khánh Toàn..Nhiều họasĩ có con em tiếp nối sự nghiệp của mình như: Hoàng Trầm, Trần Văn Phú, Nguyễn Hoàng, Liêu Tử Phong, Phan Oánh…

8*Kinh tế thị trường ngày càng pháttriển, trong quá trình mở cửa hội nhập, Việt Nam lần lượt tham gia các tổ chứcquốc tế (WTO, ASEAN, APEC…) khiến sự giao lưu quốc tế về văn hóa ngày càng mạnh. Sự cọ xát, giao lưu hoạt động chuyên môn với bè bạn quốc tế cho thấy chúng ta phải đối mặt với những lạc hậu trong cách tổ chức giáo dục đào tạo, sáng tác, tổ chức không gian trưng bày tác phẩm mỹ thuật…

Trên phạm vi toàn quốc nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, giới mỹ thuật chúng ta đang thực sự thiếu những cơ chế,tổ chức, thiết chế văn hóa mang tính chuyên nghiệp cũng như không giảng dạy sinh viên mỹ thuật các khuynh hướng nghệ thuật sau chủ nghĩa ấn tượng cho đến ngày hôm nay. Đây là thiệt thòi rất lớn cho thế hệ trẻ khi cọ sát kiến thức chuyên môn với bạn bè quốc tế.

9*Nhà nước mở rộng quy hoạch, phát triển đô thị, phát triển hệ thống giao thông đô thị, các khu công nghiệp, khu vui chơi, khu thương mại làm cho đời sống, nhịp sống đô thị ngày càng khởi sắc thêm…Đồng thờinhiều công trình tượng đài cách mạng, khu tưởng niệm được Nhà nước quan tâm đầu tư để giáo dục truyền thống cho đời sau. Đây là biện pháp giáo dục rất tốt. Tuy nhiên trên thực tếđã và đang diễn ra nhiều bất cập về thẩm mỹ đô thị do việc xây dựng, do việc quảng cáo vô tổ chức trên đường phố, vô tuyến truyền hình và đặc biệt là có những tình huống ảnh hưởng đến việc bảo tồn di tích văn hóa.

10*Trước sự thâm nhập của văn hóa thế giới một cách ồ ạt, Đảng và Nhà nước đã chủ trương thực hiện phương châm “Hòa nhập chứ không hòa tan”, văn nghệ sĩ không ngừng phát huy tự do sáng tạo, học tập, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại song song đó cùng chung sức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các nghệ sĩ của Hội luôn luôn mở thoáng tư tưởng tư duy sáng tác, nhận thức thẩm mỹ, phát huy sáng tạo cá nhân nhưng vẫn bám sát đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng.

Đặc biệt những năm gần đây, tình hình chính trị của khu vực trở nên phức tạp đã đặt ra cho toàndân, trong đó có giới văn nghệ sĩ sứ mạng phải tiếp tục đấu tranh bảo vệ sự độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam đồng thời luôn tâm niệm lời dạy của Bác Hồ “Nghệ sĩ là chiến sĩ”..

11*Tiếp tục duy trì và phát huy các sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng, đề tài học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; gắn tác phẩm với thực tế xã hội Việt Nam, thực tế xây dựng và phát triển thành phố Hồ Chí Minh.

12*. So với những đầu tư của Nhà nước để kích thích sự tăng trưởng kinh tế thì sự đầu tư về văn hóa giáo dục, văn học nghệ thuật chưa tương xứng, từ đó đã phát sinh nhiều bất cập.Vấnđề đang thôi thúc, nói lên khát vọng cần thiết nhất hiện nay là thành phố chúngta chưa có hệ thống Bảo tàng mỹ thuật được xây dựng mới, đúng chuẩn, hiện đại,mang tính chuyên nghiệp cao.

13* Từ những chuyển động mạnh của chủ trương đổi mới, cho đến nay đã 27 năm sau  đổi mới và 22 năm sau ngày thành lập , Hội Mỹ thuật TP.HCM ngày càng lớn mạnh về tổ chức, số lượng hội viên lẫn chất lượng hoạt động, thể hiện ở sáu chuyên ngành, mười câu lạc bộ với tổng số hội viên hiện nay lên đến 657 người.

14* Những năm gần đây có nhiều cuộc triển lãm giao lưu giữa họa sĩ, nhà điêu khắc thành phố Hồ Chí Minh và quốc tế. Kinh nghiệm giao lưu quốc tế đã giúp cho các nhà điêu khắc và họa sĩ nữ cónhiều cuộc triển lãm giao lưu rất tốt. Các nhà điêu khắc đã được các nước mời mang tác phẩm ra nước ngoài trưng bày. Đây là thành quả mới của chuyên ngành này.Ngược lại các nhà điêu khắc cũng tổ chức triển lãm giao lưu với các bạn đến từ Hàn quốc, Philipines, Canada… tại không gian của Hội mỹ thuật. Năm 2012 một sự kiện mỹ thuật cực kỳ quan trọng từ trước đến nay,đã đã diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh. Đó là cuộc triển lãm của họa sĩ nữ quốc tế lần thứ X, do Hội Họasĩ nữ Quốc tế kết hợp với Câu Lạc Bộ họa sĩ nữ của Hội mỹ thuật TP,Hồ Chí Minh tổ chức. Cuộc triển lãm này quy tụ trên 220 tác giả đến từ trên 22 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có trên 70 họa sĩ nữ Việt Nam tham gia. Sự kiện này đã được Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm của Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịchđưa vào một trong bảy sự kiện nổi bật nhất năm 2012.

15*Trong 38 năm qua (từ 1975 đến 2013) dưới sự lãnh đạo của Đảng, của  sáu nhiệm kỳ Ban Chấp Hành Hội Mỹ Thuật đã và đang phát triển từng bước vững chắc về mọi mặt.

Trong sáu nhiệm kỳ qua (tính từ khi thành lập Hội, năm 1981 đến nay) có nhiều nghệ sĩ đã liên tục được hội viên tín nhiệm bầu vào Ban Chấp Hành nhiều năm.

Có hai cá nhân nghệ sĩ và một cán bộ văn phòng đã liên tục phục vụ tại Hội, trong Ban Chấp Hành liên tục trong sáu nhiệm kỳ qua là: họa sĩ Nguyễn Xuân Đông, nhà điêu khắc Phan Gia Hương và Cô Lê Thị Minh Loan, hiện là Chánh Văn Phòng.

Cho đến nay ( năm 2013 ) số lượng các nghệ sĩ  hội viên của Hội đã đạt Giải thưởng Nhà Nước, Giải thưởng Hồ chí Minh, Nhà giáo nhân dân. Nghệ sĩ nhân dân, nhà giáo ưu tú, nghệ sĩ ưu tú được thống kê như sau:

*Về Giải thưởng Hồ Chí Minh: Huỳnh Văn Gấm, Diệp Minh Châu, Nguyễn Sáng, Nguyễn Hải, Nguyễn Gia Trí.

*Về Giải thưởng Nhà Nước: Hoàng Trầm, Lê Thị Kim Bạch, Nguyễn Hiêm, Thái Hà, Lưu Công Nhân, Quách Phong,Thanh Châu, Huỳnh Phương Đông, Đinh Rú, Nguyễn Kao Thương, Phạm Mười.

*Về Nghệ sĩ nhân dân: Quách Đống (Lương Đống) , Phan Đắt Trưởng (Phan Phan),Trương Qua.

*Về Nhà giáo nhân dân: Nguyễn Phước Sanh, Hoàng Trầm, Nguyễn Hoàng, Huỳnh Văn Mười (Uyên Huy).

*Về Nhà giáo ưu tú: Nguyễn Xuân Đông, Trịnh Dũng, Đặng Thị Dương, Trương Phi Đức, Lê Đàn, Nguyễn Xuân Tiên, Ngô Túy Phượng, Nguyễn Trung Tín, Trần Hữu Tri,

*Về Nghệ sĩ ưu tú: Phạm Hồng Phong, Phạm Nguyên Cẩn.

15*Qua sáu nhiệm kỳ,danh sách các thành viên trong Ban Chấp hành qua các thời kỳ như sau:

*Nhiệm kỳ thứ nhất từ 1981 đến 1987:

Ban Thư Ký: nhà điêu khắc Diệp Minh Châu (Tổng Thư ký), họa sĩ Quách Phong (Phó Tổng Thư ký), họa sĩ Cổ TấnLong Châu (Phó Tổng Thư ký), họa sĩ Nguyễn Thanh Châu (Phó Tổng Thư ký), họa sĩThái Hà (Phó Tổng Thư ký), nhà lý luận Trang Phượng (Phó Tổng Thư ký),  họa sĩ Nguyễn Toàn Thi (Phó Tổng Thư ký), nhàđiêu khắc Phạm Mười Ủy viên Ban thường vụ, họa sĩ Huỳnh Phương Đông Ủy viên Banthường vụ, nữ họa sĩ Hà Thị Hạnh Ủy viên Ban thường vụ, họa sĩ Nguyễn Phước Sanh Ủy viên Ban thường vụ.

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Nữ họa sĩ  Trịnh Kim Vinh, nhà điêu khắc nữ Phan Gia Hương, họa sĩ Ca Lê Thắng, họa sĩ Lương Đống, nhà điêu khắc Nguyễn Hải, họa sĩ Nguyễn Xuân Đông, họa sĩ Võ Xưởng, họa sĩ Nguyễn Văn Triêm, họa sĩ Mai Lang Phương, họa sĩ Trương Qua, nhà lý luận Nguyễn Phúc, họa sĩ Nguyễn Đôn, họa sĩ Trương Đức Vinh, họa sĩ Nguyễn Vĩnh Bảo, họa sĩ Trương Văn Ý, họa sĩ Hoàng Trầm, họa sĩ Lê Bá Đáng, họa sĩ Nguyễn Trung, họa sĩ Huỳnh Bá Thành, họa sĩ Lê Vinh, nhà điêu khắc Lương Thanh Tòng.

*Nhiệm kỳ thứ hai từ 1987 đến 1995:

Ban Thư Ký: nhà điêu khắc Diệp Minh Châu (Chủ tịch danh dự), họa sĩ Quách Phong (Tổng Thư ký), họa sĩ  Ca Lê Thắng (Phó Tổng Thư ký thường trực),nhà điêu khắc Nguyễn Phước Sanh (Phó Tổng thư ký)  họa sĩ Đào Minh Tri Ủy Viên Ban Thư ký, họa sĩ Nguyễn Thanh Châu Ủy Viên Ban Thư ký, nhà lý luận Trang Phượng Ủy Viên Ban thư ký, Nhà điêu khắc Phan Gia Hương Ủy Viên Ban thư ký,

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Họa sĩ Nguyễn Hoài Hương, họa sĩ Nguyễn Xuân Đông, họa sĩ Hà Quang Phương, họa sĩ Phan Oánh, họa sĩ Huỳnh Phương Đông, họa sĩ Lương Đống, họa sĩ Nguyễn Trung, họa sĩ Trương ĐứcVinh, họa sĩ Trịnh Kim Vinh, họa sĩ Hoàng Trầm, nhà điêu khắc Nguyễn Hải, nhà điêu khắc Phạm Mười, nhà điêu khắc Trương Đình Quế.

*Nhiệm kỳ thứ ba từ 1995 đến 2000:

Ban Thư Ký: họa sĩ Nguyễn Thanh Châu (Tổng Thư ký), họa sĩ  Ca Lê Thắng (Phó Tổng Thư ký thường trực), họa sĩ Đào Minh Tri (Phó Tổng Thư ký), họa sĩ Quách Phong Ủy Viên Ban Thư ký, nhà lý luận họa sĩ Trang Phượng Ủy Viên Ban Thư ký, nhà điêu khắc Phạm Mười Ủy Viên Ban Thư ký.

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Họa sĩ Hồ Hữu Thủ, họa sĩ Nguyễn Hoàng, họa sĩ Nguyễn Trung, họa sĩ Huỳnh Phương Đông, họa sĩ Lê Thanh Trừ, họa sĩ Nguyễn Xuân Đông, họa sĩ Thái Hà, họa sĩ Trương Hán Minh, nhà điêu khắc Phan Gia Hương.

*Nhiệm kỳ thứ tư từ 2000 đến 2005:

Ban Thư Ký: họa sĩ Nguyễn Thanh Châu (Tổng Thư Ký), họa sĩ Đào Minh Tri (Phó Tổng Thư ký thường trực), nhà lý luận Trang Phượng (Phó Tổng Thư ký), họa sĩ Phạm Đỗ Đồng Ủy Viên Ban Thư ký, họa sĩ Nguyễn Xuân Đông Ủy Viên Ban thư ký.

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Họa sĩ Huỳnh Phương Đông, họa sĩ Nguyễn Hoàng, họa sĩ Trần Xuân Hòa, họa sĩ Huỳnh Văn Mười, nhà điêu khắc Phan Gia Hương, nhà lý luận Nguyễn Thị Kim Loan, nhà lý luận Hà Văn Ngọc Sương, họa sĩ Hồ Hữu Thủ, họa sĩ Trương Hán Minh, họa sĩ Đỗ Hoàng Tường.

*Nhiệm kỳ thứ năm từ 2005 đến 2010:

Ban Thư Ký: họa sĩ Đào Minh Tri (Chủ tịch), họa sĩ  Huỳnh Văn Mười (Phó chủ tịch phụ trách hành chánh), họa sĩ Phạm Đổ Đồng (Phó Chủ tịch phụ trách chuyên môn) , họa sĩ Nguyễn Xuân Đông Ủy viên Ban Thường vụ , Nhà điêu khắc Phan Gia Hương Ủy viên Ban Thường vụ .

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Họa sĩ Trương Hán Minh, họa sĩ Nguyễn Trung Tín, họa sĩ Phan Oánh, nhà lý luận Trương Phi Đức, nhà lý luận Nguyễn Thị Kim Loan, họa sĩ Nguyễn Thanh Châu, họa sĩ Trần Xuân Hòa, họa sĩ Nguyễn Đức Thọ, họa sĩ Dương Sen, họa sĩ Phan Phương Trực.

Ghi chú về sự thay đổi giữa nhiệm kỳ:

*Vào đầu năm 2007 họa sĩ Đào Minh Tri bị đột quy, không đủ sức khỏe để tiếp tục làm nhiệm vụ Chủ tịch Hội. Ban Chấp Hành đã bầu lại chức danh này và kết quả họa sĩ Huỳnh Văn Mười giữ chức Chủ tịch Hội kiêm phụ trách hành chánh, Phó Chủ tịch là họa sĩ Phạm Đỗ Đồng. họa sĩ Đào Minh Tri giữ vai trỏ Ủy Viên Ban Thường vụ.

*Do yêu cầu tổ chức hoạt động, Ban Thường Vụ đã thống nhất đổi trên Ngành Trang trí Mỹ nghệ thành Ngành Trang trí Mỹ thuật.

*Nhiệm kỳ thứ sáu từ 2010  đến 2015:

Ban Thư Ký: họa sĩ Huỳnh Văn Mười (Chủ tịch) , họa sĩ Nguyễn Xuân Đông (Phó Chủ tịch), họa sĩ Lê Xuân Chiểu (Phó Chủ tịch), họa sĩ Nguyễn Trung Tín Ủy Viên Ban thường vụ, nhà điêu khắc Phan Gia Hương Ủy viên Ban Thường vụ .

Các thành viên trong Ban Chấp hành:

Họa sĩ Nguyễn Đức Thọ, họa sĩ Dương Sen, họa sĩ Phan Oánh, họa sĩ Siu Quý, họa sĩ Mai Anh Dũng,họa sĩ Limkhim Katy, họa sĩ Trương Hán Minh, họa sĩ Trần Văn Quân, nhà điêu khắc Trần Thanh Nam, nhà điêu khắc Phan Gia Hương, nhà điêu khắc Hoàng Tường Minh.

Ghi chú về sự thay đổi giữa nhiệm kỳ:

*Vào cuối năm 2011 họa sĩ  Nguyễn Xuân Đông vì lý do sức khỏe đã làm đơn xin thôi giữ chức vụ Phó Chủ Tịch . Đến giữa năm 2012 Ban Thường Vụ, Ban Chấp Hành họp xem xét nguyện vọng chính đáng của họa sĩ Nguyễn Xuân Đông, đã đi đến nhất trí để họa sĩ Xuân Đông thôi giữ chức Phó Chủ tịch, chỉ là thành viên của Ban Chấp Hành và tất cả nhất trí đề cử và bầu họa sĩ Siu Quý thay thế chức vụ của họa sĩ Nguyễn Xuân Đông. Và họa sĩ Siu Quý giữ chức vụ Phó Chủ tịch phụ trách hành chánh.

Tóm lại, khi nói  tới lịch sử hoạt động mỹ thuật của thành phố mang tên Bác Hồ thì vai trò của Hội Mỹ Thuật giữ vị trí vô cùng quan trọng, bởi vì nó là ngôi nhà chung của các nghệ sĩ thị giác và nó luôn gắn liền với dòng chảy của mỹ thuật khu vực và thế giới; gắn liền với lịch sử từng bước xây dựng, bảo vệ, phát triển thành phố  .

Hiện nay giới nghệ sĩ mỹ thuật liên tục góp phần của mình vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật của thành phố trong thời kỳ hội nhập, trong xu thế toàn cầu hóa; quyết tâm góp sức đưa Thành Phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa nghệ thuật phía Nam, trở thành thành phố điểm của du lịch.